TRƯỜNG THCS ĐỒNG HOÁ TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁTTRIỂN
I.VỊ TRÍ ĐỊA LÍ
Xã Đồng Hoá nằm trong vùng có nhiều đồi núi, sông suối cách trở, ruộng đất ít, dân cư tôn giáo nhiều lại phân bố rải rác trên các vùng đồi trải dài theo nhánh sông Gianh. Trường THCS Đồng Hoá đóng trên địa bàn trung tâm văn hoá của xã.
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG THCS ĐỒNG HOÁ
Trước những biến cố lịch sử dân tộc, những khó khăn của đất nước thời kì chống đế quốc Mỹ, ngành giáo dục của huyện Tuyên Hoá nói chung cũng như xã Đồng Hoá nói riêng cũng có những bước thăng trầm theo chiều dài của chiến tranh gian khổ. Từ năm 1964 trở về trước, xã Đồng Hoá chưa có trường cấp II, học sinh phải đi học các trường cụm của các xã khác xa xôi, cách trở. Từ thôn Đại Sơn, học sinh lên học tại trường cấp II Thuận Hoá, học sinh Thôn Đồng Giang, Thuận Hoan xuống học trường cấp II Thạch Hoá. Năm học 1965 -1966, do số lượng học sinh cấp II tăng lên (nhiều hộ gia đình xã phù Hoá di dân lập làng mới - Đồng Phú); do chiến tranh phá hoại ác liệt, học sinh đi học không an toàn nên cấp trên có quyết định thành lập trường cấp II Đồng Hoá.
- Năm học 1965 - 1966, trường cấp II Đồng Hoá đóng tại khu vực cây vải thôn Đồng Giang. Hiệu trưởng trường là thầy Lương Thế Hanh. Lúc này trường chỉ có 1 lớp 5, gồm khoảng 35 học sinh do thầy Trần Khắc Thứ (dạy các bộ môn khoa học xã hội) và cô Trần Thị Mận (dạy các bộ môn khoa học tự nhiên) phụ trách.
- Năm học 1966-1967, trường có 2 lớp cấp II, 1 lớp 5 gồm 35 học sinh và 1 lớp 6 cũng gồm 35 học sinh. Thầy Phan Đăng Phù, quê ở Hà Tỉnh – nguyên là giáo viên khoa học tự nhiên dạy ở trường cấp II Châu Hoá được Ty Giáo dục Quảng Bình bổ nhiệm làm hiệu trưởng.
- Năm học 1967 – 1968, trường có đủ 3 lớp cấp 2, gồm có: một lớp 5 (cã kho¶ng 45 học sinh), 1 lớp 6 (cã kho¶ng 35 học sinh) và một lớp 7 (cã kho¶ng 27 học sinh). Hiệu trưởng của trường là cô giáo Nguyễn Thị Phẩm (quê ở xã Thạch Hoá) dạy các môn khoa học tự nhiên. Về phía giáo viên có thầy Đinh Ôn dạy các bộ môn khoa học tự nhiên, cô Phạm Thị Minh Quý, thầy Lê Ngọc Mỹ dạy các môn khoa học xã hội.
- Năm học 1968 -1969, trường vẫn duy trì 3 lớp cấp II và đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn không thay đổi.
- Năm học 1969 -1970, trường cấp II vẫn giữ vững nề nếp dạy học, duy trì 3 khối (khối 5, khối 6, khối 7), mỗi khối 1 lớp. Lúc này hiệu trưởng là thầy Trần Anh Tuấn (quê ở thôn Cao Trạch, xã Phong Hoá).
- Năm học 1970 – 1971, thầy Trần Anh Tuấn vẫn giữ chức vụ hiệu trưởng, quy mô trường lớp có tăng lên cụ thể có 4 lớp cấp II: 02 lớp 5, 01 lớp 6 và 01 lớp 7.
- Từ năm học 1971 đến 1974, trướng lúc này có 5 lớp: 02 lớp 5, 02 lớp 6 và 01 lớp 7. Hiệu trưởng là thầy Lê Văn Thắng (quê ở xã Văn Hoá). Đội ngũ giáo viên cũng tăng lên đủ tiêu chuẩn 1,5 Gv/lớp. Có nhiều giáo viên mới chuyển về như: cô Hoàng Thị Hương, cô Nguyễn Thị Tuyết, cô Lê Thị Nghị (Đại học Sinh), cô Phạm Thị Tâm (Đại học Toán).
- Các năm học 1975 đến 1979, trướng cấp II Đồng Hoá trở nên chính quy hơn, quy mô lớp được mở rộng hơn (1977 nhËp tiÓu häc víi THCS) thÇy NguyÔn V¨n Ng÷ lµm hiÖu trëng.
*. Có thể nói, trường cấp II Đồng Hoá kể từ năm thành lập cho đến thời điểm 1979, nằm trong những khó khăn chung của dân tộc nên cơ sở vật chất thiếu thốn đủ bề. Trước cái khốc liệt của bom đạn chiến tranh, thầy và trò tự làm nhà hầm để học, rồi sơ tán trong các xóm làng, nhà tranh vách đất, bàn ghế là tre nứa, sách giáo khoa rất hiếm, vở, giấy, bút, mực càng hiếm hơn. Trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn như vậy nhưng thầy và trò vẫn thực hiện mọi phong trào như “tiếng trống Bắc Lý”, vẫn làm tốt nhiệm vụ “Dạy tốt - Học tốt”, tình cảm thầy trò gần gũi, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau.
- Tõ năm học 1979 - 1980, trường PTCS gồm 14 lớp (từ lớp 1 đến lớp 7, mỗi khối 2 lớp). Hiệu trưởng trường là thầy Nguyễn Văn Ngữ (quê ở xã Lệ Sơn). Thời kì này có sự chuyển biến về cơ sở vật chất, trường học được xây 12 phòng cấp 4 (trêng ®îc chuyÓn tõ th«n §ång Giang cñ vµo th«ng §ång Giang míi hiÖn nay), tuy nhiên bàn ghế học sinh vẫn còn rÊt thiếu thèn.
- Từ năm 1983 - 1986, trường vẫn sát nhập với cấp I và hiệu trưởng phụ trách chung là thầy Nguyễn Văn Ba, hiệu phó THCS là thầy Trần Văn Tuyến (n¨m häc 1984-1985, sau thÇy chuyÓn lªn Phßng Gi¸o dôc ), hiệu phó phụ trách Tiểu học là thầy Nguyễn Bá Cung.
- Năm 1986 đến 1988, trường vẫn đóng tại thôn Đồng Giang và thầy Nguyễn Văn Duyễn làm hiệu trưởng, thầy Lê Hữu Đang là hiệu phó.
- Năm 1988 - 1989, thầy Nguyễn Xuân Huề được điều về làm hiệu trưởng. Trường có 02 hiệu phó, vẫn là thầy Lê Hữu Đang phụ trách THCS và thầy Trần Ngọc Châu phụ trách khối Tiểu học.
- Năm 1989 đến năm 1991, được sự điều động của UBND huyện thầy Trần Minh Hiệu có quyết định về làm hiệu trưởng khi thầy Huề chuyển đi, lúc này thầy Đoàn Xuân Quang được bổ nhiệm làm hiệu phó.
- Năm 1991 -1992, khối cấp II được tách khỏi trường PTCS và mang tên trường THCS cho đến bây giờ. Thầy giáo Hồ Ngọc Tranh chuyển về làm hiệu trưởng, hiệu phó là thầy Lê Ngọc Tâm.
- Từ năm 1992 đến năm 1994, thầy giáo Lê Đức Khâm làm hiệu trưởng, không có hiệu phó.
- Cũng từ năm 1994 đến năm 1998, thầy Nguyễn Văn Duyễn trở lại làm hiệu trưởng và trường vẫn không có hiệu phó.
- Năm 1998 - 2000, trường ®îc bæ nhiÖm thªm hiệu phó phụ trách chuyên môn là thầy Phan Duy Lương.
*. Từ thời điểm 1992 cho đến những năm này, nhìn chung về cơ sở vật chất đã có phát triển cũng như quy mô về trường lớp mở rộng hơn.
- Năm học 2000 - 2001, trường có 12 lớp và hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Duyễn nhưng không có hiệu phó.
- Năm học 2001 đến 2004, quy mô trường lớp có thay đổi về cơ sở vật chất (bàn ghế, xây mới 06 phòng học đáp ứng đủ học 2 ca) hiệu trưởng trường là thầy Nguyễn Văn Duyễn và hiệu phó là thầy Lê Duy Hoè.
- Năm học 2004 - 2005, hiệu trưởng thầy Nguyễn Văn Duyễn.
- Năm học 2005 - 2006, hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Duyễn và bổ nhiệm thầy Cao Văn Thái làm hiệu phó.
- Từ năm 2006 cho đến nay, hiệu trưởng là thầy giáo Mai Xuân Hường và hiệu phó là thầy Hoàng Minh Điểu. Trong 6 năm cũng lãnh dạo, với sự nổ lực không ngừng của BGH và toàn thể giáo viên, nhân viên, học sinh trường THCS Đồng Hoá đã thay đổi hoàn toàn về bộ mặt cũng như chất lượng dạy và học. Cơ sở vật chất của trường được nâng lên rõ rệt, khuôn viên trường xanh sạch đẹp, có các phòng chức năng đáp ứng nhu cầu dạy học theo trường Chuẩn Quốc gia.
III. THÀNH QUẢ CỦA TRƯỜNG TRONG NHỮNG NĂM QUA
*. Chi bộ: Nhiều năm đạt chi bộ trong sạch vững mạnh.
*. Nhà trường: Nhiều năm liền trường được cấp trên xét tặng danh hiệu trường tiên tiến.
*. Công đoàn: Luôn đạt danh hiệu công đoàn... và có nhiều đång chí đạt danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”
*. Cán bộ, giáo viên, nhân viên: Có nhiều giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh như cô giáo Cao Thị Hồng Oanh, cô Nguyễn Thị Tiểu Phượng. Nhiều thầy cô giáo là giáo viên giỏi cấp huyện như cô Hoàng Thị Thanh Bình, cô Lê Thị Hương Lan... Rất nhiều đồng chí đạt danh hiệu là Chiến sĩ thi đua, lao động Tiến tiến của huyện.
*. Chi đoàn: Năm nào cũng đạt chi đoàn vững mạnh xuất sắc. Có nhiều đoàn viên được khen thưởng.
*. Liên đội: Luôn đạt Liên đội vững mạnh xuất sắc được Hội đồng đội huyện khen thưởng.
*. Học sinh:
- Những năm đất nước đang lâm nguy, chiến tranh khốc liệt nhưng tinh thần học tập vẫn không hăng say nhiều học sinh vẫn đạt học sinh giỏi cấp tỉnh như em Lưu Đức Hoà, Hồ Minh Hồng... Và học sinh thời kỳ này phần lớn sau khi tốt nghiệp cấp II đều vào bộ đội, đi B, đi thanh niên xung phong ở các chiến trường miềnNam. Nhiều em đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc như liệt sĩ Trần Xuân Thương, liệt sĩ Đoàn Xuân Quảng, liệt sĩ Cao Văn Lợi... Cũng từ thế hệ này, nhiều học sinh đã trưởng thành trong quân đội mang cấp bậc đáng tự hào như những học sinh Lê Thanh Hải (hiện là phó bí thư Đảng uỷ xã Đồng Hoá), Nguyễn Văn Trọng, Hoàng Văn Hoà, Trần Văn Ngãi, Lê Xuân Hiểu, Trần Xuân Bình (đang là Bí thư Đảng uỷ xã Đồng Hoá). Một số học sinh tiếp tục học lên và thành đạt như học sinh Lưu Đức Hoà, tốt nghiệp đại học toán ở Nga, hiện đang là giảng viên trường Đại học bách khoa Đà Nẵng; học sinh Võ Thị Phương Như, trung tá công an Sài Gòn (đã nghỉ hưu); học sinh Hồ Minh Hồng, giám đốc công ty điện tử Quảng Bình; hay học sinh Phạm Quang Huy, hiệu trưởng trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh; học sinh Phạm Xuân Bình, tỉnh uỷ viên, phó giám đốc Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Quảng Bình; học sinh Trần Xuân Ngãi Chánh án toà án quân khu 5 Đà Nẵng... Nhiều thế hệ học sinh tiếp nối nghề giáo như học sinh Đinh Thị Hương - trưởng phòng GD&ĐT huyện Minh Hoá, học sinh Nguyễn Trọng Hiếu,... và còn bao học sinh nữa đang còn say sưa trên bục giảng.
- Những năm hoà bình, đất nước thống nhất, thế hệ học sinh sau này có điều kiện học tập hơn cũng tiếp bước cha anh làm nên những thành tích vẻ vang, rạng rỡ. Nhiều học sinh đạt học sinh giỏi cấp huyện: Phạm Thị Xuân giải 2 Văn năm 1990, Đoàn Thị Thu Hương giải 3 Địa năm 2006, Anh Cường giải KK Văn năm 2011,......... nhiều học sinh đạt giải cấp tỉnh: Nguyễn Văn Cường đạt giải 3 Toán năm 1996, Phạm Thị Ngân giải 3 môn Địa năm 2000, Trần Thị Kim Quý giải 3 Casio năm 2003, Nguyễn Thị Thuỳ Linh giải 3 văn năm 2005, Hoàng Thị Bích Liễu giải 3 môn Toán năm 2005, Cao Thị Hà giải 3 viết thư UPU toàn quốc năm 2004, Vũ Thị Hiền giải 3 môn Địa năm 2010....
Mai Đức Thế @ 10:07 28/08/2012
Số lượt xem: 123
Các ý kiến mới nhất